Nhiều hãng xi măng Việt Nam nâng giá từ 5/10, Malaysia ghi xi măng tăng, Indonesia dư công suất

Nhiều hãng xi măng ở Việt Nam nâng giá trong tháng 10 theo ba mốc 5/10, 10/10 và 15/10, mức điều chỉnh 30.000 đến 100.000 đồng mỗi tấn tùy hãng. Cùng tháng 9, chỉ số xi măng của Malaysia tăng còn giá thép trung bình giảm, và Indonesia cho biết doanh số nửa đầu năm tăng nhưng công suất vẫn dư.

Giá xi măng đến tay người mua ở ba nước đi theo ba nhịp khác nhau: biểu giá từng hãng ở Việt Nam, chỉ số thống kê ở Malaysia và công suất dư ở Indonesia. Vì vậy các con số dưới đây không so trực tiếp được. Với nhà thầu, đại lý vật liệu xây dựng và chủ đầu tư nhà ở đang cân nhắc chốt giá, mua trước hay chia lô cho quý IV, điều cần xem là từng thông báo nói gì về giá và thời điểm.

Chúng tôi đọc lại các bài của Báo Xây dựng và Báo Đầu tư về biểu giá, thông cáo thống kê của Malaysia do The Star đăng, và các bản tin về số liệu của hiệp hội xi măng Indonesia. Thông báo giá gốc của từng hãng và báo cáo gốc của Cục Thống kê Malaysia chưa mở được, nên số liệu dưới đây viết theo các bài báo dẫn lại.

Nước Điều đã công bố Mốc cần xem tiếp
Việt Nam Nhiều hãng tăng 30.000–100.000 đồng/tấn từ 5/10, 10/10, 15/10 Bảng giá các hãng sau 15/10
Malaysia Xi măng +0,3–1,9% so với tháng 8, +0,6–7,4% so với cùng kỳ; thép trung bình -2,4% Số tháng 10 của DOSM
Indonesia Nửa đầu năm 30,71 triệu tấn, +10,5%; hệ số sử dụng khoảng 56% so với mức lành mạnh 80–85% Số chín tháng của ASPERSSI

Xi măng ở ba nước ASEAN: điều đã công bố và mốc cần xem tiếp (cập nhật đến 18/10/2026). Nguồn: Báo Xây dựng, DOSM qua The Star, ASPERSSI qua Industry.co.id

Việt Nam: nhiều hãng nâng giá ba mốc, xi măng rời tăng nhiều hơn xi măng bao ở một số hãng

Theo Báo Xây dựng ngày 1/10 và Báo Đầu tư ngày 28/9, từ 5/10 Vissai Hà Nam, Xi măng Xuân Thành, Thành Thắng Group và Xi măng Sông Lam áp biểu giá mới, tăng 70.000 đồng mỗi tấn với xi măng bao và 100.000 đồng với xi măng rời. Xuân Thành Quảng Nam và Xuân Thành Khánh Hòa chỉ tăng 70.000 đồng với xi măng bao, giữ nguyên xi măng rời. Xi măng Long Sơn tăng 70.000 đồng mỗi tấn xi măng bao tại một số thị trường ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, cũng từ 5/10.

SCG Việt Nam tăng 49.896 đồng mỗi tấn với mọi dòng xi măng bao 50 kg và bao Jumbo xuất khỏi nhà máy, kho từ 5/10. INSEE Việt Nam chia hai đợt: từ 10/10 tăng 50.000 đồng mỗi tấn với các dòng bao phổ thông, từ 15/10 tăng 100.000 đồng với nhóm xi măng công nghiệp. Báo Xây dựng còn ghi nhiều đơn vị thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam (VICEM) thông báo tăng từ đầu tháng 10, phổ biến 50.000 đến 100.000 đồng mỗi tấn.

Ở một số hãng, mức tăng với xi măng rời cao hơn xi măng bao. Với đại lý và nhà thầu mua xi măng rời, mức tăng ở hãng đang cung cấp có thể cao hơn xi măng bao; đây là suy luận từ biểu giá đã công bố của các hãng nêu trên. Về nguyên nhân, bài báo nêu biến động giá clinker, than, thạch cao, chi phí năng lượng, vận hành và logistics. Đây là phần tổng hợp của bài báo, không phải lời giải thích của từng hãng.

Malaysia: xi măng tăng 0,6% đến 7,4% so với cùng kỳ, thép giảm theo tháng

Theo thông cáo của Cục Thống kê Malaysia (DOSM) về công trình xây dựng tháng 9/2026, do The Star đăng ngày 12/10 theo Bernama, chỉ số giá đơn vị xi măng tăng 0,6% đến 7,4% so với tháng 9/2025 trên toàn quốc. Mức cao nhất là 7,4% ở Selangor, Kuala Lumpur, Melaka và Negeri Sembilan, tiếp theo là Kuching 7,0% và Miri 6,6%. So với tháng 8, chỉ số xi măng tăng 0,3% đến 1,9% ở một số khu vực, cao nhất 1,9% ở bốn nơi kể trên, còn Kota Kinabalu và Kuching tăng 0,3%.

Giá bình quân xi măng Portland thường không đổi, ở mức 25,80 ringgit mỗi bao. Giá thép trung bình, gồm thép tròn trơn và Mycon 60, giảm 2,4% xuống 3.431,90 ringgit mỗi tấn trong tháng 9, từ 3.484,20 ringgit tháng 8, quy đổi ra khoảng 52,30 ringgit mỗi tấn. Chỉ số thép tăng 0,1% đến 5,1% so với cùng kỳ ở hầu hết khu vực, nhưng giảm 0,2% đến 1,6% so với tháng 8.

Indonesia: doanh số tăng nhưng công suất vẫn dư

Số liệu của Indonesia là số nửa đầu năm, công bố từ tháng 7, nên chỉ đóng vai trò bối cảnh. Theo Hiệp hội Xi măng Indonesia (ASPERSSI), qua Industry.co.id ngày 22/7 và Kontan, tiêu thụ xi măng nội địa tháng 1 đến tháng 6/2026 khoảng 30,71 triệu tấn, so với 27,78 triệu tấn cùng kỳ, tăng 10,5%. Chủ tịch hiệp hội Lilik Unggul Raharjo cho biết mức tăng một phần do nền thấp của nửa đầu 2025: so với nửa đầu 2024 chỉ tăng khoảng 7,8%.

Công suất của ngành khoảng 120 triệu tấn mỗi năm. Hệ số sử dụng ước khoảng 54% năm 2025 và nhích lên khoảng 56% năm 2026, trong khi mức lành mạnh về kinh tế theo hiệp hội là 80% đến 85%. Quy đổi ra, còn thiếu khoảng 24 đến 29 điểm phần trăm. Ông Lilik nói trong tuyên bố đăng trên Industry.co.id ngày 22/7: “Mức tăng doanh số nửa đầu năm chưa đủ để thay đổi nền tảng của ngành. Hệ số sử dụng công suất vẫn thấp hơn nhiều so với mức lành mạnh về kinh tế, khoảng 80% đến 85%”.

ASPERSSI cho biết nhu cầu nửa đầu năm nhờ chi tiêu chính phủ nhanh hơn, công trình công cộng hồi sinh và xây dựng ở nhiều địa phương; nửa cuối năm dự kiến vẫn tăng nhưng chậm hơn. Hiệp hội cũng nêu áp lực chi phí sản xuất gồm năng lượng, than, điện, phân phối và logistics. Chúng tôi chưa có số chín tháng của Indonesia.

Bảng giá các hãng sau 15/10, số tháng 10 của DOSM và số chín tháng của ASPERSSI sẽ cho biết nhịp này có tiếp tục hay không.

Nguồn tham khảo

Ban biên tập ASEAN
Ban biên tập ASEAN

Ban biên tập ASEAN thuộc ACTA Wire Vietnam, phụ trách Campuchia, Lào, Myanmar, Brunei, Đông Timor, chuyên mục Quan sát ASEAN và các chủ đề liên quan đến Đài Loan, theo dõi chuỗi cung ứng công nghiệp và dân sinh của khu vực từ góc nhìn liên quốc gia. Nội dung quan tâm điện tử, điện thoại, thực phẩm, nông nghiệp, năng lượng và hàng tiêu dùng hằng ngày, kết nối nguyên liệu, chế biến sản xuất, vận tải xuyên biên giới và thị trường cuối cùng, phân tích tác động của chính sách, đầu tư và thương mại ở từng nơi đối với doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng.

Đội ngũ biên tập tổng hợp văn bản gốc chính thức của các nơi và báo chí có tên tuổi, đối chiếu số liệu, thời điểm và xuất xứ, rồi viết bài và rà soát theo Chính sách biên tập. Khi so sánh giữa các quốc gia hoặc khi nguồn có khác biệt, chúng tôi nêu rõ khung dữ liệu và giới hạn, phân biệt rõ sự kiện, nhận định và rủi ro. Mọi bài viết đều được biên soạn từ dữ liệu công khai có thể đối chiếu trực tuyến và không trích dẫn nguồn tin ẩn danh.

Bài viết: 6
Email
Zalo
Email
Zalo