Section 301 Taiwan: Đài Loan chịu thuế 10% không cộng dồn MFN, kèm danh sách miễn trừ riêng

Đúng 0 giờ 01 phút ngày 24/7 giờ miền Đông nước Mỹ, biểu thuế mới theo Section 301 có hiệu lực với hàng hóa của 60 nền kinh tế. Không có quãng đệm: mức thuế tạm thời theo Section 122 hết hạn đúng hôm đó, bảng phân loại mới thế chỗ ngay trong đêm. Trong bảng ấy, Section 301 Taiwan là một trường hợp riêng. Đài Loan chịu mức 10%, không cộng dồn thuế suất tối huệ quốc (MFN), và có một danh sách miễn trừ được soạn riêng.

Hồ sơ bắt đầu từ loạt điều tra Section 301 về hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức mà Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) khởi động ngày 12/3/2026 với 60 vụ việc. Hơn bốn tháng sau, ngày 23/7 giờ Mỹ, Đại diện Thương mại Jamieson Greer công bố hành động cuối cùng theo Đạo luật Thương mại 1974.

Ba nhóm thuế suất, ba cách tính khác nhau

Theo thông cáo hành động cuối cùng của USTR, 60 nền kinh tế bị điều tra được xếp thành ba nhóm.

Nhóm thứ nhất chịu mức 10% và được nêu đích danh, gồm 17 nền kinh tế: Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Trinidad and Tobago và Vương quốc Anh.

Nhóm thứ hai có năm thành viên: Liên minh châu Âu, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ. Với một số sản phẩm nhất định không thuộc diện miễn trừ, mức thuế là 10% hoặc 12,5%, tính trên cơ sở trừ đi thuế suất MFN.

Nhóm thứ ba là phần còn lại, chịu 12,5%. USTR cho biết các nền kinh tế bị điều tra chiếm khoảng 99,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ.

USTR nêu ba trường hợp có thể dẫn tới mức 10%: nền kinh tế đó đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức, đã cam kết ban hành và thực thi lệnh cấm ấy thông qua một hiệp định thương mại đối ứng, hoặc đã có cơ chế từng phần. Cơ quan này không chỉ rõ nền kinh tế nào thuộc trường hợp nào.

Section 301 Taiwan: cơ chế “không cộng dồn MFN” vận hành thế nào

Cụm từ nghe kỹ thuật, nhưng hệ quả rất cụ thể trên tờ khai.

Theo bản tin của Thông tấn xã Trung ương Đài Loan (CNA) ngày 24/7, Phó Viện trưởng Hành chính viện kiêm Triệu tập viên Tổ công tác kinh mậu Đài – Mỹ Trịnh Lệ Quân xác nhận Đài Loan được áp mức 10% không cộng dồn MFN. Hành chính viện giải thích cách tính: sản phẩm đang chịu thuế dưới 10% thì phần thuế 301 chỉ cộng thêm cho vừa đủ 10% khi gộp cả MFN; sản phẩm mà riêng MFN đã đạt hoặc vượt 10% thì không bị đánh thêm thuế 301.

Nghĩa là 10% ở đây là mức trần chứ không phải mức cộng thêm. Đài Loan không được miễn thuế Section 301; thứ thay đổi là cách cộng. Với nhóm chịu 12,5%, thông cáo của USTR không nêu một cơ chế trừ MFN tương tự.

Bà Trịnh Lệ Quân cho biết phía Mỹ ghi nhận các cam kết Đài Loan đưa ra trong Hiệp định Thương mại Đối ứng Đài – Mỹ (ART) về chính sách cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức, và đó là lý do Đài Loan nhận mức đãi ngộ này cùng danh sách miễn trừ riêng.

Danh sách miễn trừ đã có khung, chưa có tên hàng

Hành chính viện dẫn công bố của USTR, chia miễn trừ làm ba nhóm. Một là tài liệu mang tính thông tin, hàng quyên góp và hành lý xách tay. Hai là toàn bộ hàng hóa cùng linh kiện đã chịu thuế theo Section 232. Ba là nhóm sản phẩm trọng yếu với chuỗi cung ứng và nền kinh tế: nguyên vật liệu mà việc đánh thuế có thể gây thiếu hụt nguồn cung nội địa, sản phẩm có thể làm gián đoạn nguồn cung của cả nền kinh tế, sản phẩm Mỹ không tự sản xuất đủ và cũng không lấy được từ nguồn khác, cùng những sản phẩm mà việc miễn trừ sẽ khuyến khích các nền kinh tế như Đài Loan, Anh, Thụy Sĩ, Malaysia, Indonesia thực thi lệnh cấm nhập khẩu hàng lao động cưỡng bức.

Danh mục chi tiết thì chưa có. Hành chính viện cho biết Tổ công tác kinh mậu Đài – Mỹ sẽ xác nhận thêm rồi mới thuyết minh về những hạng mục Đài Loan thực sự được miễn.

Một hồ sơ khác cũng chưa khép lại. Bà Trịnh Lệ Quân lưu ý phía Mỹ chưa công bố kết quả cuộc điều tra Section 301 về “dư thừa năng lực sản xuất mang tính cơ cấu”; chỉ khi cả hai cuộc điều tra hoàn tất, phía Mỹ mới đưa ra quyết định về mức thuế cuối cùng.

Đường phân nhóm nằm ở đâu

Ba trường hợp mà USTR liệt kê cho mức 10% đều xoay quanh một điểm chung: nền kinh tế đó đã có, hoặc đã cam kết xây dựng, bộ quy định chặn hàng lao động cưỡng bức ngay tại cửa khẩu nhập. Riêng trường hợp Đài Loan, chính quyền Đài Bắc quy nguyên nhân về các cam kết trong ART.

Việt Nam không nằm trong danh sách 17 nền kinh tế được nêu đích danh ở mức 10%, cũng không thuộc nhóm năm thành viên được tính thuế theo từng nhóm sản phẩm. Với các chuỗi lấy linh kiện thượng nguồn từ Đài Loan rồi lắp ráp tại Việt Nam để xuất sang Mỹ, mức trần 10% của Đài Loan và mức 12,5% của phần còn lại là hai cấu trúc chi phí khác nhau, chứ không đơn thuần là khoảng cách 2,5 điểm phần trăm.

Quy mô tham vấn phía sau quyết định cho thấy đây không phải một động tác vội vàng: USTR tổ chức hai vòng điều trần công khai, ngày 28-29/4 và ngày 7-9/7, riêng vòng tháng 7 có hơn 100 nhân chứng; cơ quan này nhận hơn 2.100 ý kiến công chúng, trong đó hơn 1.600 ý kiến bằng văn bản gửi riêng cho phần biện pháp đề xuất, và tham vấn chính phủ của hơn 45 nền kinh tế bị điều tra. Ngày 2/6, USTR kết luận có thể hành động theo Điều 301(b).

Huang Zhengang
Huang Zhengang

Tổng biên tập của ASEAN Vietnam FDI News Agency, phụ trách tiêu chuẩn nội dung, quy trình kiểm chứng, chính sách đính chính và định hướng biên tập của FDI News. Các bài viết tập trung vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp, bất động sản công nghiệp, chuỗi cung ứng và thị trường ASEAN. Nội dung được biên tập theo nguyên tắc minh bạch nguồn, kiểm tra dữ liệu và cập nhật khi có thông tin mới.

Bài viết: 734
Email
Zalo
Email
Zalo