Bộ trưởng Điều phối Lương thực Indonesia Zulkifli Hasan nói chi phí sản xuất gạo trong nước hiện ở mức 12.000–14.000 rupiah mỗi kg, trong khi Thái Lan và Việt Nam khoảng 4.000 rupiah, theo Antara. Ông phát biểu tại lễ khai mạc triển lãm nông nghiệp Agrinex ở Jakarta ngày 23/10, cùng lúc nêu nguyên nhân và các biện pháp chính phủ đang thực hiện.
Điểm chính
- 1Ngày 23/10, Bộ trưởng Zulkifli Hasan nói chi phí sản xuất gạo Indonesia 12.000–14.000 rupiah mỗi kg, so với khoảng 4.000 rupiah ở Thái Lan và Việt Nam.
- 2Quy đổi: chênh lệch gấp 3 đến 3,5 lần; đây là các con số bộ trưởng nêu, chưa phải số liệu thống kê.
- 3Quy định phân bón trợ giá được cắt từ 145 xuống 3; lượng hấp thụ tăng từ 6 triệu tấn lên 9,5 triệu tấn.
- 4Indonesia nhập khoảng 4,5 triệu tấn gạo trong năm 2024.
Con số 12.000–14.000 rupiah mỗi kg nói lên điều gì?
Theo Antara, Liputan6 và Pantau, ông Zulkifli nói chi phí này vượt xa mức khoảng 4.000 rupiah mỗi kg ở các nước láng giềng như Thái Lan và Việt Nam. Quy đổi ra, chênh lệch là gấp 3 đến 3,5 lần; Pantau nêu cùng tỷ lệ. Đó là các con số bộ trưởng nêu tại lễ khai mạc, chưa phải số liệu thống kê.
Con số chính
12.000–14.000 rupiah/kg
Chi phí sản xuất gạo Indonesia theo bộ trưởng
3–3,5 lần
Gấp so với khoảng 4.000 rupiah/kg ở Thái Lan và Việt Nam (quy đổi, số bộ trưởng nêu)
9,5 triệu tấn
Lượng phân bón trợ giá được hấp thụ, tăng từ 6 triệu tấn
6.500 rupiah/kg
Giá mua thóc tại ruộng, không kèm yêu cầu độ ẩm
Ba bài không nêu cách tính (kỳ tính, tỷ giá, gạo hay thóc), lượng gạo Indonesia nhập từ Việt Nam, kế hoạch nhập 2026–2027 hay mục tiêu sản lượng.
Chính phủ Indonesia đang làm gì?
Về phân bón trợ giá, ông Zulkifli nói tại lễ khai mạc Agrinex ngày 23/10, theo Antara: “Trước đây quy định về phân bón rất rối, có 145 quy định liên quan đến việc cấp phép từ cấp huyện đến cấp tỉnh. Nay chúng tôi cắt còn ba quy định thông qua Sắc lệnh Tổng thống. Kết quả là lượng phân bón trợ giá được hấp thụ tăng ngay từ 6 triệu tấn lên 9,5 triệu tấn.” Lượng này thêm 3,5 triệu tấn, khoảng 58,3% so với mức trước.

Chính phủ cũng điều chỉnh quy định giá mua thóc tại ruộng lên 6.500 rupiah mỗi kg, không kèm yêu cầu độ ẩm. Theo ông Zulkifli, các can thiệp này giúp Chỉ số Điều kiện thương mại của nông dân (NTP) tăng từ 116 lên 131, tức thêm 15 điểm, khoảng 12,9%.
Vì sao chi phí cao, theo bộ trưởng?
Theo Antara và Pantau, ông Zulkifli cho rằng vấn đề chính là chỉ số vụ gieo trồng thấp, bắt nguồn từ quản lý thủy lợi và khả năng tiếp cận vật tư sản xuất chưa tối ưu. Trong tổng 7,4 triệu ha đất lúa cả nước, diện tích gieo trồng cả năm chỉ đạt 10 triệu ha vì phần lớn ruộng chỉ gieo một vụ mỗi năm, tức khoảng 1,35 lần diện tích đất lúa.
Pantau dẫn ông nói quản lý thủy lợi đang chia giữa cấp huyện (quy mô 1.000 ha) và cấp tỉnh (3.000 ha), nên hạ tầng thủy lợi chưa được chăm lo đủ và có nơi bị hỏng. Ông nói chính phủ sẽ sửa.
Với doanh nghiệp lúa gạo và vật tư nông nghiệp Việt Nam, điều này có nghĩa gì?
Đây là suy luận có điều kiện: nếu các cải cách giúp tăng vụ và sản lượng, nhu cầu nhập gạo của Indonesia có thể giảm; nếu không, nhu cầu sẽ phụ thuộc vào khoảng cách chi phí mà ông Zulkifli nêu.
Cả ba bài gắn chênh lệch chi phí với việc Indonesia phụ thuộc nguồn cung nước ngoài, và nêu Indonesia nhập khoảng 4,5 triệu tấn gạo trong năm 2024.
Câu hỏi thường gặp
Chi phí sản xuất gạo ở Indonesia cao hơn Thái Lan và Việt Nam bao nhiêu?
Theo Bộ trưởng Zulkifli Hasan, chi phí sản xuất gạo Indonesia là 12.000–14.000 rupiah mỗi kg, so với khoảng 4.000 rupiah ở Thái Lan và Việt Nam, tức gấp 3 đến 3,5 lần; đây là số bộ trưởng nêu, chưa phải số liệu thống kê.
Indonesia nhập bao nhiêu gạo trong năm 2024?
Theo Antara, Liputan6 và Pantau, Indonesia nhập khoảng 4,5 triệu tấn gạo trong năm 2024.
Chính phủ Indonesia đang làm gì để giảm chi phí sản xuất gạo?
Theo ông Zulkifli, chính phủ cắt quy định phân bón trợ giá từ 145 xuống 3, điều chỉnh giá mua thóc lên 6.500 rupiah mỗi kg không kèm yêu cầu độ ẩm và nói sẽ sửa quản lý thủy lợi.




