Thái Lan và Mỹ đã đạt thỏa thuận nguyên tắc về thuế quan, chỉ còn hoàn tất chi tiết kỹ thuật và câu chữ. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thương mại Thái Lan Suphajee Suthumpun xác nhận điều này ngày 28/9/2026, sau khi trao đổi với Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) bên lề Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Mức thuế và thời điểm ký vẫn chưa được công bố.
Thái Lan muốn hoàn tất thỏa thuận trước khi Mỹ triển khai thêm biện pháp theo Mục 301, liên quan kiểm soát nhập khẩu hàng dùng lao động cưỡng bức và cáo buộc dư thừa công suất sản xuất. Nước này cũng đang xử lý lo ngại về việc lợi dụng xuất xứ Thái Lan.
Ngày 18/9, bà Suphajee cho biết hai bên đã thống nhất một số vấn đề thực chất, đàm phán ở giai đoạn cuối và Thái Lan hướng tới khung thuế 19%. Đó là mục tiêu phía Thái Lan đặt ra, không phải mức đã chốt trong thỏa thuận. Thái Lan cũng đã nộp thông tin và bằng chứng cho USTR trong điều tra Mục 301.
Thuế lao động cưỡng bức đang chia hai mức
Ngày 12/3/2026, USTR mở 60 cuộc điều tra Mục 301 về việc không cấm và không thực thi lệnh cấm nhập khẩu hàng dùng lao động cưỡng bức. Theo thông báo hành động của USTR, Thái Lan và Việt Nam nằm trong 54 nền kinh tế bị kết luận không áp và thực thi lệnh cấm.
Từ ngày 24/7/2026, Mỹ áp thuế 10% với nền kinh tế đã có lệnh cấm, đã cam kết qua Hiệp định Thương mại Đối ứng (ART) hoặc có cơ chế một phần, trong đó có Campuchia, Indonesia và Malaysia. Cũng thông báo này áp mức 12,5% với sản phẩm của Thái Lan và của Việt Nam, trừ các mặt hàng thuộc phụ lục miễn trừ.
So với Campuchia, Indonesia hay Malaysia, hàng từ Thái Lan và Việt Nam đang chịu thêm 2,5 điểm phần trăm ở riêng khoản thuế này. Chênh lệch đó cho thấy một cam kết song phương với Mỹ có thể thay đổi mức thuế thực tế áp lên hàng xuất xứ từ một nước.
Song song, tháng 3/2026 USTR mở điều tra Mục 301 về dư thừa công suất sản xuất mang tính cơ cấu với 16 nền kinh tế, trong đó có Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Campuchia. Phiên điều trần bắt đầu từ ngày 5/5/2026, và quyết định của USTR trong cuộc điều tra này là bước tiếp theo các nước trong danh sách cùng chờ.
Nhà máy ở Thái Lan cảm nhận trước, nhà đầu tư so sánh địa điểm theo sau
Nhóm chịu tác động đầu tiên là nhà xuất khẩu và nhà đầu tư FDI có nhà máy ở Thái Lan bán hàng sang Mỹ. Mức thuế trong văn bản ký chính thức sẽ quyết định chi phí đưa hàng của họ vào thị trường này.
Tiếp theo là doanh nghiệp đang so sánh địa điểm sản xuất giữa các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Điều khoản Thái Lan chốt được với Mỹ sẽ thành một mốc để họ đặt cạnh mức áp hiện hành ở các nước khác trước khi quyết định đặt dây chuyền mới.
Mốc kế tiếp là văn bản thỏa thuận ký chính thức cùng mức thuế công bố, và liệu Thái Lan có ký kịp trước khi Mỹ ra thêm biện pháp Mục 301 hay không. Khi các con số này rõ ràng, nhà đầu tư phục vụ thị trường Mỹ từ ASEAN sẽ có căn cứ cụ thể hơn để lập kế hoạch sản xuất.




