Việt Nam xuất khẩu nhiều hồ tiêu hơn nhưng thu về mỗi tấn ít hơn năm trước. Từ đầu năm đến 15/9/2026, cả nước xuất 202.414 tấn, thu 1,32 tỷ USD, tăng lần lượt 15,2% về lượng và 10,3% về trị giá so với cùng kỳ.
Quy đổi ra, đơn giá xuất khẩu bình quân vào khoảng 6.521 USD/tấn, từ số liệu VietnamPlus ngày 2/10 đối chiếu với số liệu Cục Hải quan do Tạp chí Kinh tế – Tài chính đăng. Từ hai mức tăng trên, đơn giá cùng kỳ năm trước vào khoảng 6.811 USD/tấn, tức mức năm nay thấp hơn khoảng 4%.
Giá tại vùng trồng nhích lên so với cuối tháng 8 nhưng chưa bằng năm ngoái
Ngày 29/9, giá hồ tiêu tại các vùng trồng chính ở mức 136.000–140.000 đồng/kg, theo VietnamPlus. Mức này cao hơn cuối tháng 8 từ 1.000 đến 3.000 đồng/kg, nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước 10.000–12.000 đồng/kg, tức khoảng 7–8%.
Hai con số 4% và 7–8% đo trên hai nền khác nhau: một bên là đơn giá xuất khẩu bình quân của cả giai đoạn, bên kia là giá thu mua tại một ngày. Cả hai đều thấp hơn năm trước. Bài viết của VietnamPlus nêu nguyên nhân giá chưa hồi phục như kỳ vọng gồm nguồn nhập khẩu bổ sung, bất định từ xung đột Trung Đông và chính sách thuế quan của Mỹ.
Nhập khẩu tăng khoảng 35%, bằng khoảng 24% lượng xuất
Đến 15/9/2026, Việt Nam nhập 47.961 tấn hồ tiêu, tăng khoảng 35% so với cùng kỳ, theo VietnamPlus và Tạp chí Kinh tế – Tài chính. Lượng này bằng khoảng 24% lượng xuất cùng kỳ, nhiều hơn khoảng 12.400 tấn so với cùng kỳ năm trước. Nửa đầu tháng 9, nhập khẩu còn 959 tấn, giảm 40,9% so với 1.623 tấn của nửa đầu tháng 8.
Theo VietnamPlus, nguồn nhập bổ sung là một trong những lý do giá chưa hồi phục như kỳ vọng. Cả hai bài báo chỉ nêu tổng lượng nhập, chưa có cơ cấu theo nước. Vì vậy, hồ tiêu nhập về đến từ đâu và được dùng vào việc gì, chúng tôi chưa thể nói.
Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, Trung Quốc đứng thứ hai
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất đến 15/9 với 47.254 tấn, chiếm 23,5% tổng lượng. Trung Quốc đứng sau với 22.620 tấn, chiếm 11,2%. Tiếp theo là UAE 13.486 tấn, Ấn Độ 8.158 tấn và Thái Lan 8.135 tấn; năm thị trường này chiếm một nửa lượng xuất, theo số liệu VPSA do Tạp chí Kinh tế – Tài chính dẫn.
Trong nửa đầu tháng 9, theo VPSA, xuất khẩu đạt khoảng 70 triệu USD. Lượng sang Mỹ tăng 62,4% lên 2.905 tấn, chiếm 26,6% lượng xuất của kỳ; Trung Quốc tăng 34,1%. Ngược lại, UAE giảm 42,1% và châu Âu giảm 26,3%.
Ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký VPSA, đánh giá một số yếu tố tích cực tiếp tục hỗ trợ ngành. Theo VietnamPlus, cầu hồi phục ở Mỹ và Trung Quốc đang giúp giá giữ tương đối cao khi nguồn cung không còn dồi dào. Ông cho rằng doanh nghiệp vẫn chịu áp lực từ thuế quan, chi phí logistics và tiêu chuẩn kỹ thuật chặt hơn. Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng cho rằng nguồn cung toàn cầu hạn chế cùng nhu cầu nhập khẩu phục hồi dần ở các thị trường lớn giúp giữ giá tương đối cao và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu.
Tồn kho thấp và yêu cầu truy xuất vùng nguyên liệu
Theo VPSA, sản lượng toàn cầu năm 2026 được dự báo thấp hơn ước tính trước, do sản lượng ở Việt Nam, Indonesia và Ấn Độ giảm vì thời tiết bất lợi và năng suất thấp. Brazil tăng nhưng chưa đủ bù. Tồn kho chuyển từ 2025 sang 2026 dự báo chỉ khoảng 170.000 tấn, trong đó gần 60.000 tấn ở Việt Nam. Đây là dự báo của VPSA, không phải số thống kê chính thức.
Ở phía thị trường nhập khẩu, VietnamPlus cho biết EFSA đang hướng tới đánh giá rủi ro tích lũy với nhiều hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật, và xu hướng này được dự kiến siết kiểm soát với gia vị. Doanh nghiệp cần tăng kiểm soát vùng nguyên liệu, lập hệ thống truy xuất minh bạch và kiểm nghiệm thường xuyên.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 3/10 (giờ Hà Nội), chúng tôi mở hai bài trên. Cả hai chỉ nêu số lũy kế đến 15/9 và tổng lượng nhập khẩu; số Hải quan đủ tháng 9 và cơ cấu nhập khẩu theo nước vẫn chưa có. Hai bộ số này là mốc kế tiếp để đối chiếu với đơn giá và giá vùng trồng ở trên.




