Thuế 301 của Mỹ: Đài Loan chịu 10% net of MFN, 1.909 dòng hàng công nghiệp được miễn trừ

Ngày 23/7/2026 giờ miền Đông nước Mỹ, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố hành động cuối cùng của cuộc điều tra “lao động cưỡng bức” theo Mục 301 Luật Thương mại 1974, áp thuế lên 60 nền kinh tế chiếm khoảng 99,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ, hiệu lực từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7/2026 giờ miền Đông. Đài Loan cùng Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sĩ được xếp vào một nhóm tính thuế riêng: Đài Loan ở mức 10% net of MFN, Nhật Bản và Hàn Quốc ở mức 12,5% net of MFN. Với doanh nghiệp Việt Nam, phần cần đọc kỹ không nằm ở con số mà ở ba chữ net of MFN: cơ sở tính khác nhau thì gánh nặng thuế thực tế trên cùng một dòng hàng cũng khác nhau.

Net of MFN là bù cho đủ 10%, không phải cộng thêm 10%

Thông cáo chính thức của USTR ghi rằng Đại diện Thương mại Jamieson Greer thực hiện hành động cuối cùng theo chỉ đạo của Tổng thống, “imposing tariffs on 60 economies for their failure to impose and effectively enforce a prohibition on the importation of goods produced with forced labor”. Bản thông cáo nêu mức “10 percent or 12.5 percent, net of Most-Favored-Nation (MFN) rate” áp cho một số sản phẩm nhất định của năm nền kinh tế nói trên, chi tiết nằm trong thông báo trên Federal Register.

Cách vận hành của net of MFN được Focus Taiwan mô tả theo bản tiền công bố của Federal Register: nếu thuế MFN của một mặt hàng từ Đài Loan thấp hơn 10%, phần MFN cộng phần 301 được tính gộp thành đúng 10%; mặt hàng nào đã có MFN bằng hoặc cao hơn 10% thì không bị cộng thêm phần 301. Nói gọn, net of MFN là “bù cho đủ”, không phải “cộng chồng”.

Đây chính là chỗ cơ sở tính của Việt Nam khác với Đài Loan. Mức 12,5% áp cho Việt Nam là phần cộng chồng lên thuế MFN, còn 10% của Đài Loan là con số gộp cuối cùng. Hai cơ sở tính không giống nhau nên không thể trừ trực tiếp hai con số cho nhau; muốn so sánh phải nhìn gánh nặng thuế thực tế của từng dòng hàng.

Bộ Kinh tế Đài Loan đưa ra ví dụ cụ thể ngày 25/7. Ở nhóm dụng cụ cầm tay, phụ kiện ngành nước và xe đạp, hàng Đài Loan chịu 10%, trong khi gánh nặng thuế thực tế của hàng Trung Quốc là 40,1%–43,1% và của hàng Việt Nam là 15,1%–18,1%. Ở nhóm dệt may và thiết bị y tế, Đài Loan cũng ở mức 10%, Trung Quốc 40%–46,2%, Hàn Quốc 12,5%.

Máy công cụ: 2,5 điểm phần trăm và một trật tự bị đảo

Theo bản tin của Thông tấn xã Trung ương Đài Loan, lấy máy công cụ và cơ khí làm ví dụ, mức 10% của Đài Loan lần đầu tiên thấp hơn mức 12,5% của Nhật Bản và Hàn Quốc, tạo ra khoảng cách 2,5 điểm phần trăm. Ba nền kinh tế này cùng nằm trong nhóm net of MFN nên đây là so sánh trên cùng một cơ sở tính.

Với các nhà cung ứng linh kiện cơ khí ở Việt Nam đang nhận đơn gia công từ khách Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc, thứ tự chi phí thuế của chính nhóm khách hàng đó vừa được sắp lại bằng chính sách, không phải bằng năng suất.

Danh sách miễn trừ 1.909 dòng: 1.817 toàn cầu, 92 dành riêng cho Đài Loan

Cũng theo Thông tấn xã Trung ương, phía Mỹ miễn trừ 1.909 dòng hàng công nghiệp của Đài Loan, các dòng này khi vào Mỹ chỉ chịu thuế MFN. Trong đó 1.817 dòng thuộc diện miễn trừ toàn cầu, còn 92 dòng là miễn trừ dành riêng cho Đài Loan, gồm thiết bị dẫn đường vô tuyến, thiết bị thông tin liên lạc, pin lithium-ion và các linh kiện máy bay khác, phân bón và sản phẩm dầu nhẹ. Chất bán dẫn cùng các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông chủ lực nằm trong danh sách miễn trừ nên tạm thời chưa chịu tác động.

Danh sách miễn trừ không phải là trạng thái vĩnh viễn. Mục đích của nó là khuyến khích các nền kinh tế thực hiện cam kết, nên có thể được điều chỉnh theo tình trạng thực hiện. Báo cáo của USTR, theo tường thuật của Focus Taiwan, ghi rằng Đài Loan có vẻ đang thực hiện các bước theo cam kết nhưng “had yet to enact a legal ban”, tức chưa ban hành lệnh cấm bằng luật.

Cấu trúc của danh sách này đáng chú ý hơn cả bản thân mức thuế: hồ sơ tuân thủ về lao động được quy đổi thành từng dòng thuế cụ thể.

46 tỷ Đài tệ và phần chưa ngã ngũ của Mục 301

Bộ Kinh tế Đài Loan đã bố trí ngân sách đặc biệt về khả năng chống chịu quy mô 46 tỷ Đài tệ cho bốn nhóm biện pháp. Cơ quan này cũng lưu ý những gì công bố theo Mục 301 lần này mới là phần “lao động cưỡng bức”; cuộc điều tra “dư thừa công suất” chưa được công bố và mức thuế cuối cùng còn chờ vụ đó kết thúc.

Vì vậy, thông tin này không đồng nghĩa với việc tổng gánh nặng thuế của hàng Đài Loan vào Mỹ giảm xuống.

Những điểm đáng theo dõi của cơ chế net of MFN

Thứ nhất là biến động của danh sách 1.909 dòng miễn trừ, phần gắn với tiến độ thực hiện cam kết. Thứ hai là kết quả cuộc điều tra dư thừa công suất, yếu tố quyết định mức thuế cuối cùng. Thứ ba là phạm vi của nhóm net of MFN: hiện chỉ năm nền kinh tế áp dụng cách tính này, nên mọi so sánh chi phí giữa các cơ sở sản xuất cần xác định trước mặt hàng thuộc cơ sở tính nào.

FDI News đã đưa tin về phần Malaysia trong cùng đợt 301 này: mức thuế 10% Mỹ áp cho Malaysia.

Huang Zhengang
Huang Zhengang

Tổng biên tập của ASEAN Vietnam FDI News Agency, phụ trách tiêu chuẩn nội dung, quy trình kiểm chứng, chính sách đính chính và định hướng biên tập của FDI News. Các bài viết tập trung vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp, bất động sản công nghiệp, chuỗi cung ứng và thị trường ASEAN. Nội dung được biên tập theo nguyên tắc minh bạch nguồn, kiểm tra dữ liệu và cập nhật khi có thông tin mới.

Bài viết: 751
Email
Zalo
Email
Zalo