Thái Lan chưa duyệt các mức tăng giá 5–10% từ 1/10 dù đã có đơn nộp, và 59 mặt hàng nằm trong danh mục kiểm soát. Philippines nói chưa nhận đề nghị tăng giá nào, còn Indonesia giữ trần dầu ăn MinyaKita ở 15.700 rupiah/lít.
Ba nước giữ giá hàng thiết yếu trên kệ bằng ba công cụ khác nhau: quyền duyệt tăng giá, theo dõi và chờ đề nghị, giá trần kèm phân phối.
Thái Lan giữ quyền duyệt, và nói rõ việc chưa phê duyệt
Theo Nation Thailand ngày 24/9, Cục Thương mại nội địa (DIT) Thái Lan chưa cho phép các mức tăng giá 5–10% được đồn là có hiệu lực từ 1/10. Tổng cục trưởng Wittayakorn Maneenetr nói một số nhà sản xuất đã nộp đơn, nhưng Cục chưa phê duyệt việc tăng.
| Nước | Điều đã công bố | Công cụ | Ngày |
|---|---|---|---|
| Thái Lan | Chưa duyệt tăng giá 5–10%; 59 mặt hàng kiểm soát | Quyền duyệt tăng giá | 24/9/2026 |
| Philippines | Chưa nhận đề nghị tăng giá; theo dõi 204 mã hàng | Theo dõi theo mã hàng | 28/9/2026 |
| Indonesia | MinyaKita bình quân 15.865 rupiah/lít, HET 15.700 | Giá trần kèm phân phối | Số đến 11/9/2026 |
Ba nước ASEAN, ba công cụ giữ giá hàng thiết yếu (cập nhật đến 2/10/2026). Nguồn: Nation Thailand, BusinessMirror, Antara
Ông giải thích cảm nhận về giá tăng nhiều khả năng do doanh nghiệp giảm hoặc đổi khuyến mãi, hoặc tăng giá trong mức trần đã được duyệt, loại không cần phê duyệt mới.
Có 59 mặt hàng thuộc diện kiểm soát theo luật giá và 16 sản phẩm tiêu dùng thiết yếu được theo dõi sát. Các sản phẩm được nhắc gồm cà phê ba trong một, cá đóng hộp, xà phòng, kem đánh răng, phấn rôm, bột ngọt, ngũ cốc và gia vị.
Philippines theo dõi 204 mã hàng và chờ đề nghị của doanh nghiệp
Ngày 28/9, Bộ trưởng Thương mại Ma. Cristina A. Roque nói với BusinessMirror: “Cho đến nay chúng tôi chưa nhận đề nghị nào với nhóm hàng thiết yếu và hàng hóa chủ lực, nên giá thực phẩm ổn định.”
Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) theo dõi 204 mã hàng (SKU) nhóm hàng thiết yếu và hàng hóa chủ lực. Theo BusinessMirror, bản tin giá bán lẻ đề xuất mới nhất trên trang của DTI đề ngày 11/5. Bối cảnh của bài là biến động giá nhiên liệu và áp lực chi phí vận tải.
Indonesia giữ trần MinyaKita và dồn sức vào phân phối
Theo Antara ngày 14/9, đến 11/9 giá bình quân toàn quốc của dầu ăn MinyaKita là 15.865 rupiah/lít, so với giá bán tối đa (HET) 15.700 rupiah/lít. Quy đổi ra, mức này cao hơn HET khoảng 1,05%.
Giám đốc Phát triển thị trường nội địa thuộc Tổng cục Thương mại nội địa (Kemendag) Nawandaru Dwi Putra nói với Antara: “Về tổng thể, nguồn cung dầu ăn được ghi nhận an toàn và ổn định, nhưng hiện nay chúng ta cùng tập trung vào việc làm sao để Minyakita được phân phối đồng đều.”
Bộ đề nghị Perum Bulog và ID FOOD cung cấp MinyaKita liên tục cho chợ dân sinh. Theo Antara ngày 18/6, Bộ trưởng Thương mại Budi Santoso nói không tăng HET MinyaKita, vẫn 15.700 rupiah/lít, và tập trung phân phối qua Bulog và ID FOOD.
Giá cập nhật hơn đến từ Bảng giá thực phẩm quốc gia của Ngân hàng Indonesia (PIHPS Nasional) và hệ thống SP2KP của Bộ Thương mại, qua Sketsindonews ngày 29/9. Giá bán lẻ bình quân toàn quốc ngày 28/9: MinyaKita khoảng 15.703 rupiah/lít, dầu ăn cao cấp khoảng 23.790 rupiah/lít, dầu ăn rời khoảng 19.382 rupiah/lít.
Quy đổi ra, giá bình quân MinyaKita ngày 28/9 chỉ cao hơn HET khoảng 0,02%, còn dầu ăn cao cấp đắt hơn MinyaKita khoảng 1,5 lần.
Ba công cụ, và điều chưa thấy sau các ngày đã nêu
Với Thái Lan, công cụ là quyền duyệt: doanh nghiệp nộp đơn, Cục quyết định, và các mức tăng trong trần đã duyệt không cần duyệt lại. Với Philippines, công cụ là theo dõi theo mã hàng; theo Bộ trưởng, chưa có đề nghị tăng giá nào. Với Indonesia, công cụ là giá trần đi cùng việc đẩy mạnh phân phối.
Tối 2/10 (giờ Hà Nội), chúng tôi tìm tin sau các ngày đã nêu trên các trang báo đã mở: chưa thấy thông báo của DIT Thái Lan về phê duyệt tăng giá sau 24/9, đề nghị tăng giá gửi DTI Philippines sau 28/9, hay điều chỉnh HET MinyaKita sau 18/6.
Các mốc kiểm được tiếp theo là quyết định của DIT với các đơn đã nộp, bản tin giá tiếp theo của DTI và giá bình quân MinyaKita so với HET.




