Malaysia vừa đặt phụ thu nhiên liệu tự động (AFA) tháng 10 ở mức +3,61 sen/kWh, tháng thứ sáu liền dương, và dự báo +7,59 sen vào tháng 1/2027. Thái Lan chọn hướng khác: 200 số điện đầu của hộ gia đình tính tối đa 3 baht mỗi số.
Chúng tôi so mức thay đổi trong cùng một đồng tiền, không so giá tuyệt đối giữa các nước.
Hai nước đệm bằng quy định và cam kết của doanh nghiệp điện lực
Với Thái Lan, đệm là quy định. Theo Nation Thailand ngày 12/8, Ủy ban Điều tiết Năng lượng (ERC) chốt giá điện bình quân khoảng 3,89 baht/kWh cho hóa đơn từ tháng 9/2026, giảm 6 satang so với 3,95 baht đặt trước đó. Lý do là khoảng 6 satang chi phí chiếu sáng công cộng được đưa ra khỏi giá điện cơ sở.
| Nước | Điều đã công bố | Cách đệm | Mốc kế tiếp |
|---|---|---|---|
| Thái Lan | Giá bình quân 3,89 baht/kWh; 200 số đầu tối đa 3 baht/số | Quy định bậc thang cho hộ gia đình | Kỳ Ft 9–12/2026 |
| Malaysia | AFA tháng 10/2026 là +3,61 sen/kWh | Phụ thu theo tháng; hộ dưới 800 kWh được miễn đến 31/12/2026 | Dự báo tháng 11 +4,27 sen/kWh |
| Philippines | Meralco tháng 9: 14,7424 peso/kWh, giảm 0,0409 peso | Chi phí phát điện đi vào hóa đơn hằng tháng | Thông báo tháng 10 chưa có |
| Indonesia | Biểu giá quý III giữ nguyên với 13 nhóm không trợ giá | Biểu giá giữ nguyên theo quý | Biểu giá quý IV chưa công bố |
| Việt Nam | 2.204,0655 đồng/kWh từ 10/5/2025 | Ngưỡng 2% và 5% theo Nghị định 278/2026 | Kỳ rà soát quý trước 25/10 |
Năm cách đệm hóa đơn điện hộ gia đình ở ASEAN (cập nhật đến 2/10/2026). Nguồn: Nation Thailand, paultan.org, Meralco, GMA News, Kementerian ESDM, Fortune Indonesia, Tuổi Trẻ, Công Thương
Ft của kỳ 9–12/2026 là 16,23 satang/kWh. Với hộ gia đình, 200 số điện đầu tính tối đa 3 baht mỗi số, so với mức bình quân 3,89 baht.
Phạm vi hộ gia đình cũng rộng hơn: nhà cho thuê, ký túc xá, căn hộ và nhà chưa đăng ký địa chỉ nay được tính giá hộ gia đình. Tổng thư ký Văn phòng ERC kiêm người phát ngôn Poonpat Leesombatpiboon nói ERC đã hoàn tất việc lấy ý kiến về biểu giá bậc thang cho hộ gia đình và việc đưa chi phí chiếu sáng công cộng ra khỏi giá điện cơ sở.
Malaysia để phụ thu chạy theo tháng. Ngày 1/10, theo paultan.org, Ủy ban Năng lượng (ST) đặt AFA tháng 10/2026 ở +3,61 sen/kWh, so với +3,67 sen của tháng 9. Đây là tháng thứ sáu liền AFA dương, và là năm tháng liền mức tính toán vượt dải tự động 3 sen/kWh.
Dự báo của ST còn đi lên: +4,27 sen/kWh cho tháng 11, +4,46 sen cho tháng 12, rồi +7,59 sen vào tháng 1/2027.
Phần che chắn nằm ở hóa đơn của hộ dùng ít điện. Hộ dùng từ 800 kWh/tháng trở xuống được miễn AFA, phí bán lẻ và thuế dịch vụ (SST) đến 31/12/2026. Riêng nhóm 600 đến 800 kWh, Tenaga Nasional (TNB) hấp thụ phụ thu AFA cho hơn tám triệu hộ từ tháng 9 đến tháng 12/2026, và nói sẽ gánh phần vượt 150 triệu ringgit nếu cần.
Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc TNB Datuk Shamsul Ahmad nói, theo paultan.org dẫn ngày 1/10: “Chúng tôi đã cam kết, và chúng tôi giữ cam kết.” Diện miễn lẫn phần TNB gánh đều kết thúc vào cuối tháng 12, ngay trước tháng mà ST dự báo AFA cao nhất.
Philippines chuyển chi phí theo tháng, Indonesia đóng băng theo quý
Meralco ở Philippines để chi phí phát điện đi thẳng vào hóa đơn hằng tháng; mức giảm tổng thể đến từ các khoản khác. Theo thông báo ngày 10/8, giá điện chung tháng 8 là 14,7833 peso/kWh, giảm 0,0428 peso so với 14,8261 peso của tháng 7.
Trong tháng 8, chi phí phát điện tăng 0,0296 peso/kWh, phí NGCP tăng 0,3024 peso và thuế cùng các khoản khác tăng 0,2113 peso.
Phần bù lại là khoản hoàn 9,5 tỷ peso, tương đương 0,5861 peso/kWh với hộ gia đình, do Ủy ban Điều tiết Năng lượng Philippines cho phép chia sáu tháng; khoản này liên quan đến việc chậm đặt lại giá phân phối. Phó Chủ tịch kiêm Trưởng truyền thông doanh nghiệp Joe R. Zaldarriaga nói với hộ dùng 200 kWh, mức điều chỉnh tương đương giảm khoảng 9 peso.
Tháng 9, theo GMA News ngày 11/9, giá chung của Meralco là 14,7424 peso/kWh, giảm 0,0409 peso; hộ dùng 200 kWh giảm khoảng 8 peso.
Chi phí phát điện tháng 9 tăng 42,32 centavo/kWh vì peso yếu hơn và chi phí nhiên liệu cao hơn do xung đột ở Trung Đông. Meralco nêu mức giảm chung chủ yếu nhờ phí dịch vụ phụ trợ do NGCP thu giảm và thuế thấp hơn. Nếu cộng hai tháng, mức giảm chung khoảng 0,0837 peso/kWh, tương đương khoảng 0,6% giá tháng 7, trong khi riêng chi phí phát điện tháng 9 tăng gấp khoảng 10 lần mức giảm chung của tháng đó.
Tối 2/10 (giờ Hà Nội), chúng tôi mở trang thông báo của Meralco: thông báo gần nhất vẫn là giá tháng 9, chưa có thông báo giá tháng 10.
Indonesia chọn đóng băng. Trong thông cáo của Kementerian ESDM ngày 30/6/2026, Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Bahlil Lahadalia nói: “Để giữ sức mua của người dân và hỗ trợ ổn định kinh tế quốc gia, Chính phủ quyết định biểu giá điện quý III năm 2026 giữ nguyên, không tăng.” Biểu giá quý III áp dụng với 13 nhóm khách hàng không trợ giá, còn 24 nhóm trợ giá không đổi.
Theo Antara ngày 1/4, biểu giá quý II/2026 cũng giữ nguyên. Biểu giá được rà soát theo quý, dựa trên tỷ giá, giá dầu thô Indonesia, lạm phát và giá than tham chiếu.
Fortune Indonesia ngày 1/10 viết rằng chính phủ chưa công bố biểu giá quý IV. Theo bài này, mức đang áp dụng với nhóm không trợ giá từ 996,74 đến 1.699,53 rupiah/kWh.
Với các nhóm trợ giá, bình 450 VA được trợ giá 415 rupiah/kWh và bình 900 VA được trợ giá 605 rupiah/kWh. Tối 2/10 (giờ Hà Nội), chúng tôi mở trang lưu trữ tin của Kementerian ESDM: mục mới nhất, ngày 1/10, không nói về biểu giá điện quý IV. Tính đến khi đăng bài, Indonesia chưa công bố biểu giá quý IV.
Hóa đơn của hộ Việt Nam đứng sau một ngưỡng điều chỉnh đã viết sẵn
Ở Việt Nam, giá bán lẻ điện bình quân là 2.204,0655 đồng/kWh, chưa gồm VAT, áp dụng từ 10/5/2025 đến nay theo Quyết định 599 của EVN, tăng 4,8% so với mức trước đó. Theo Tuổi Trẻ ngày 20/5/2026, giá mua điện bình quân của EVN tháng 3/2026 là 1.907,65 đồng/kWh, thấp hơn giá bán lẻ bình quân.
Quy tắc cho lần điều chỉnh kế tiếp nằm trong Nghị định 278/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 9/7/2026 và có hiệu lực cùng ngày. Theo Công Thương, khi giá bán lẻ bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2%, EVN báo cáo Bộ Công Thương về việc không điều chỉnh.
Khi mức tính toán giảm từ 1% trở lên, hoặc tăng từ 2% đến dưới 5%, EVN lập phương án gửi Bộ Công Thương cho ý kiến trong 15 ngày làm việc. Nếu tính theo mức hiện hành, 2% khoảng 44 đồng/kWh và 5% khoảng 110 đồng/kWh.
Sau đó EVN quyết định và báo cáo trong 5 ngày làm việc. Chu kỳ rà soát hằng năm diễn ra trước 25/1, còn hằng quý diễn ra trước ngày 25 của tháng đầu quý II, III và IV.
Với nhà máy, quán ăn và hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam, điểm đáng so với láng giềng là đường đi của phần tăng chi phí. Ở Malaysia và Philippines phần tăng đến theo tháng, ở Thái Lan và Indonesia nó được giữ lại bằng quy định hoặc biểu giá giữ nguyên; ở Việt Nam, đường đi ấy là các ngưỡng phần trăm đã có thời hạn xử lý rõ ràng.
Mốc kiểm được gần nhất là AFA tháng 11 của Malaysia, dự báo +4,27 sen/kWh, cùng biểu giá quý IV của Indonesia và giá tháng 10 của Meralco, hai thông báo chưa có. Với Việt Nam, kỳ rà soát hằng quý kế tiếp theo Nghị định 278/2026 diễn ra trước ngày 25/10.




