Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên cho công nghiệp bán dẫn đến năm 2030. Theo cơ cấu được nêu tại hội thảo, 15.000 người là kỹ sư thiết kế chip, 35.000 người làm sản xuất và kiểm thử. Quy đổi ra, khoảng 70% chỉ tiêu nằm ở khâu đứng máy, đóng gói và kiểm tra sản phẩm, không phải ở bàn thiết kế.
Con số ấy được nhắc lại tại Hội thảo Bán dẫn Việt Nam – Nhật Bản lần thứ hai (VJSS 2026), do Trường Đại học Việt Nhật và Hội Trí thức Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội từ ngày 20 đến 23/9. Hội thảo có hơn 40 diễn giả; hơn 350 sinh viên từ chín trường đại học ở Hà Nội dự các bài giảng công khai, theo Hiệu trưởng Nguyễn Hoàng Oanh.
Từ lớp học sang hệ sinh thái
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nói hợp tác không thể dừng ở việc đưa người Việt sang Nhật học hay mời doanh nghiệp Nhật vào đầu tư, mà phải dựng một hệ sinh thái nối giáo dục, nghiên cứu, doanh nghiệp và sản xuất. Cổng thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ cũng ghi nhận chất lượng đào tạo và hạ tầng thực hành vẫn là thách thức.
Các hướng việc được nêu khá cụ thể: đào tạo dài hạn theo chuẩn quốc tế, đào tạo sau đại học, trao đổi giảng viên, nghiên cứu chung qua chương trình Nexus với cơ quan JST của Nhật Bản, và trung tâm thiết kế, kiểm thử dùng chung. Mỗi hướng chạm vào một mắt xích khác nhau. Lớp học tạo ra người. Phòng thực hành mới tạo ra tay nghề.
Phòng thực hành là nút thắt
Trường Đại học Việt Nhật đang xây Trung tâm quốc gia về thiết kế, chế tạo và kiểm thử vi mạch, được đặt làm nền tảng hợp tác chung. Đại sứ Nhật Bản Ito Naoki nêu những thứ còn thiếu: cơ sở nghiên cứu tiên tiến, thiết bị phù hợp và cơ hội để nhà nghiên cứu làm việc cùng doanh nghiệp.
Hai phía bù cho nhau khá rõ. Nhật Bản mạnh về vật liệu bán dẫn, thiết bị sản xuất và chế tạo chính xác; Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và nền sản xuất điện tử đang lớn lên. Hội thảo đặt yêu cầu nối kết quả phòng thí nghiệm với sản phẩm thương mại qua nghiên cứu chung, phòng thí nghiệm dùng chung và khung sở hữu trí tuệ rõ ràng. Doanh nghiệp Việt Nam được hướng tới vào chuỗi ở nhiều tầng, từ nhà cung cấp linh kiện đến dịch vụ kỹ thuật.
Nếu trung tâm dùng chung đi vào vận hành, khâu sản xuất và kiểm thử có thể là nơi hợp tác Việt – Nhật tạo ra người làm được việc sớm nhất, vì đó là phần lớn nhất của chỉ tiêu. Hội thảo chưa công bố ngân sách hay chỉ tiêu riêng cho từng chương trình chung.
Mốc để đo là thiết bị. 35.000 người đến năm 2030 cần những giờ thực hành trên máy kiểm thử thật, và phép thử đầu tiên là ngày trung tâm của Đại học Việt Nhật đón lứa học viên đầu tiên.




